Có thể nói, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc đang dần trở nên phổ biến trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nhất là việc xác định hợp đồng đặt cọc có hiệu lực hay vô hiệu, cũng như xác định lỗi để xem xét có phạt cọc hay không. Để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì cần phải hiểu và áp dụng đúng quy định của pháp luật khi giải quyết vụ án.
Cùng tìm hiểu tư vấn tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán đất


"Đặt cọc" và khắc phục tranh chấp đặt cọc

Đặt cọc là việc một bên ủy quyền bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có trị giá khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hành hiệp đồng dân sự. Đặt cọc là một trong những biện pháp bảo đảm cho việc thực hành trách nhiệm dân sự. Theo quy định tại Điều 358 Bộ luật Dân sự thì thỏa thuận về đặt cọc là một đàm phán dân sự; Thành ra, việc đặt cọc chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

- Người tham dự đàm phán có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của thương lượng không vi phạm điều cấm của luật pháp, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

- Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản đặt cọc, các đối tác có thể đàm phán với nhau. Nếu việc đàm phán không thành, một trong các bên có quyền khởi kiện ra tòa án. Việc xử lý tranh chấp hiệp đồng dân sự có đặt cọc được khắc phục căn cứ vào chỉ dẫn tại mục I.1 quyết nghị số 01/2003/NQ - HĐTP ngày 16-4-2003 của Tòa án quần chúng vô thượng. Cụ thể như sau:

a) Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao ước hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện giao kèo hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao ước hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện giao kèo thì bên nào có lỗi làm cho giao kèo không được giao ước hoặc không được thực hành hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc;

b) Nếu đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, Trong trường hợp trong quá trình thực hành hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho giao kèo không được thực hiện hoặc mới phát hiện hiệp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc;

c) Trong trường hợp các bên có ký hợp đồng hoặc pháp luật có quy định điều kiện Nếu như đặt cọc vô hiệu làm hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì giao kèo hẳn nhiên vô hiệu lúc đặt cọc ấy vô hiệu;

d) Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a và c mục I.1 này, Nếu như cả hai cùng có lỗi hoặc Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở lực khách quan thì không phạt cọc.


Như vậy, không phải trong mọi trường hợp có ký hợp đồng đặt cọc mà xảy ra tranh chấp thì đều có chế tài phạt cọc. Chỉ những trường hợp thuộc một trong hai điểm a và c như trên và không thuộc trường hợp hai bên cùng có lỗi hoặc không thuộc trường hợp gặp sự kiện bất khả kháng/trở ngại khách quan thì mới thực hành được chế tài phạt cọc theo quy định của pháp luật. Trường hợp này, Nếu ông A. Chứng minh được đã xảy ra sự kiện bất khả kháng (bằng các hồ sơ chứng tỏ có việc điều trị tai biến tại bệnh viện) thì việc phạt cọc không được thực hiện.

Với uy tín, kinh nghiệm và sự nhiệt tình luôn đặt ích lợi của người mua lên trên hết, Công ty Luật Vạn Tín tự tin có thể giúp người dùng giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến pháp luật một mẹo mau chóng, hiệu quả với giá tiền tối ưu nhất.

Mọi yêu cầu hỗ trợ, Quý khách vui lòng liên hệ theo thông tin sau:
Luật sư Phạm Thị Nhàn
ĐT: 0968.605.706
văn phòng luật sư tư vấn nhà đất
ĐT: 028.7309.6558

View more random threads: